Vova và câu hỏi dành cho cô giáo

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2004

Vova và câu hỏi dành cho cô giáo

(24h) - Đừng vội trách cậu học trò nhỏ vì những câu nói ngô nghê của cậu mà hãy xem lại suy nghĩ của người lớn trước đã.L


Trong gi hc, cô giáo mun phát trin trí tưởng tượng và kh năng cm nhn ca hc sinh nh tui; cô đưa ra my câu hi như sau:
- Các con hãy nghĩ xem, cái gì màu xám và r
t là cng?
- Bê tông
!
Cô giáo:
- Gi
i quá. Nhưng mà nó còn có th là nha đường na, thế còn cái gì màu vàng, và trên cánh đng?
- Con bò
!
- Đúng r
i! Nhưng còn có th là đng rơm na,
Vova l
m bm, t phía cui lp:
- Hmmm...
Cô giáo:
- Em đ
ng lên ngay.
Vova:
- Th
ế em hi mt câu được không?
Cô giáo th
n trng:
- Em th
nói đi!
- Th
ế cái gì trước khi cho vào ming thì nó cng, thng và khô ráo, còn sau khi ra khi ming thì nó mm nhũn, cong queo và ướt nhem?
Cô giáo đ
ng pht dy, mt đ bng, tiến thng đến tát rt kêu vào mt Vova.
Vova xoa xoa má:
- Đúng r
i! Nhưng nó còn có th là ko cao su na!

Vova và thầy giáo dự giờ

Vova và thầy giáo dự giờ

Vova và thầy giáo dự giờ

(24h) - Bạn Vova là học sinh “xuất sắc” trong các trò “siêu quậy”. Hãy xem hôm nay bạn sẽ đối phó thế nào khi lớp học có nhiều thầy đến dự giờ thế này nhé! L

Tiết tiếng Anh
Hôm nay lớp học của Vova có một số thầy giáo đến dự giờ. Cô giáo và các bạn học sinh đã chuẩn bị tất cả tình huống có thể xảy ra để buổi học diễn ra được "an toàn".
Nửa tiếng trôi qua êm đẹp, còn 15 phút nữa là hết giờ, cô giáo liền hỏi học sinh câu hỏi cuối cùng:
- Bây giờ cô sẽ viết một câu tiếng Anh lên bảng, các em hãy cố gắng dịch nó ra tiếng Tây Ban Nha nhé!
Cô giáo đang viết dở câu thì viên phấn bị rơi, cô cúi xuống nhặt và tiếp tục viết cho hết câu.
- Và bây giờ ai sẽ dịch được câu này?
Vova lập tức giơ tay. Cô giáo thì rất run, nhìn quanh lớp nhưng ngoài Vova ra thì chẳng có ai giơ tay cả. Cô giáo đành chỉ định Vova phát biểu.
Vova rất tự tin:
- Giáo viên ở đây xinh thế nhẩy?!
- Cái gì? Em ra ngay khỏi lớp học!
Vova thu gom sách vở xong và thì thầm vào tai thầy giáo dự giờ:
- Thầy đã không biết thì đừng có nhắc bài cho em chứ! 

Tiết học vệ sinh cá nhân
Nhiều lần vô tình cô giáo để ý thấy Vova lần nào trong toilet ra cũng đều rửa tay, cô rất lấy làm vui. Hôm nay có đoàn thanh tra đến dự giờ cô giáo gọi ngay Vova lên bục giảng và nói với các bạn:

- Vova là tấm gương tốt về để cho các bạn học tập về môn vệ sinh cá nhân, lần nào đi vệ sinh xong bạn ấy cũng đều rửa tay, các em phải học tập bạn ấy. Vova thấy cô giáo nói vậy cũng ngại ngùng theo:
- Dạ! Có gì đâu ạ! Không phải hôm nào em cũng rửa tay đâu, như vừa nãy chẳng hạn.
Cô giáo ngạc nhiên:
- Tại sao vừa nãy em lại không rửa tay?
- Dạ vì lúc nãy em mang theo giấy vệ sinh ạ!
- Hả?!

Sự tích hoa dâm bụt

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2004


  Bác bụt Pro. Em hâm mộ bac. Bravo biz, biz.... Chuyện kể rằng ngày nảy, ngày nay, trong 1 quán bar. Vì hôm nay là ngày cuối tuần nên BỤT láy xe hơi đi lòng vòng, vô tình thấy cô gái xinh đẹp như 1 thiên thần vì khoảng chừng 16t, cái tuổi còn non nớt và dễ bị tổn thương. Cô gái thút thít : BỤT ra vẻ và sành điệu, bước.

..


Bác bụt Pro. Em hâm mộ bac. Bravo biz, biz....
Chuyện kể rằng ngày nảy, ngày nay, trong 1 quán bar.





Vì hôm nay là ngày cuối tuần nên BỤT láy xe hơi đi lòng vòng, vô tình thấy cô gái xinh đẹp như 1 thiên thần vì khoảng chừng 16t, cái tuổi còn non nớt và dễ bị tổn thương.





Cô gái thút thít :




BỤT ra vẻ và sành điệu, bước đến bên cô gái, nắm lấy tay cô gái và hôn lên tay đó:





Cô gái vẫn thút thít:





Không chút bối rối, lần này BỤT rất tự tin và ôm chầm hôn lên môi cô gái :





Cô gái vẫn thút thít:





Thoáng chút suy tư vì sự suy đoán của mình. Bổng một chút ánh sáng loé lên BỤT đã xxx cô gái (nghiêm cấm trẻ em dưới 18t coi cảnh này)





Lần này cô gái vẫn thút thít và thậm chí khóc còn to hơn:





Lần này BỤT chịu hết nỗi vì cảm thấy mình bị sỉ nhục nhiều quá. Thân làm BỤT mà không đoán đúng cái chuyện gì hết:





Lần này cô gái mới nói thật với BỤT trong nỗi buồn tuyệt vọng:





Nghe như sét đánh bên tay, vì trong lúc vội vã đi mà quên mang bao cao su và nghĩ cô gái ấy với mình lần đầu tiên nên ......




BỤT chết đi trong sự ấm ức và sự reo hò của những ai đọc truyện tranh 

[Cổ tích]Xuyên tạc nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn


       Ngày xửa ngày xưa, tại xứ sở nọ, có một vương quốc thịnh vượng và thanh bình. Mùa đông năm đó, tuyết rơi trắng như bông. Hoàng hậu của vương quốc ngồi đan bên cửa sổ...  "Ái dồi ôi" - Bổng hoàng hậu kêu thất thanh và vứt mạnh kim đan ra phía trước. Bà bị kim đâm vào tay. Cũng phải thôi, vì từ bé đến..

.



 đến giờ, sống trong nhung gấm, người hầu kẻ hạ xung quanh, có bao giờ phải đan đâu. Bà đau, đau lắm. Một giọt máu từ tay bà rơi xuống tuyết, tuyết phủ che mất. Một giọt nữa, lại bị tuyết che. Tức mình, bà nặn máu cho ra. Máu hoà xuống tuyết, đỏ lòm. Hoàng hậu liền ước : “Sau này mà có một người con gái da trắng như tuyết, môi đỏ như máu, tóc đen như gỗ mun thì sướng nhờ”. Nghĩ vậy, bà mỉm cười, và kéo vua cha vào phòng ngủ...
       Chín tháng sau, hoàng hậu sinh được một cô con gái giống y như mong ước. Da cũng trắng như tuyết, môi đỏ như máu, tóc đen như gỗ mun, và răng thì vàng khè. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Bạch Tuyết vừa được sinh ra thì bà mất, hưởng thọ 35 tuổi và an táng tại quê nhà.  Một năm sau, vua cha lấy vợ mới. Bà này đẹp, nhưng kiêu. Ngày nào bà cũng soi gương và hỏi: “Gương kia ngự ở trên tường. Nước ta ai đẹp được dường như ta. Ta là hoàng hậu kiêu sa. Gương mà nói xấu là ta đập liền”. Gương đành trả lời: “Thưa hoàng hậu, hoàng hậu đẹp nhất trần đời”. Nghe vậy, hoàng hậu sướng rơn.  Bạch Tuyết càng lớn càng xinh đẹp, nhất là khi nàng không cười. Mỗi bước chân nàng đi, hoa trái như tươi hơn, chim chóc như hót hay hơn, và không gian tràn ngập tiếng vui cười. Năm lên bảy, Bạch Tuyết bắt đầu đẹp hơn hoàng hậu, giờ đã bước vào tuổi lục tuần. Vào một ngày nọ, như thường lệ, vừa tỉnh giấc, hoàng hậu hỏi ngay gương thần. Nhưng lần này, gương đã trả lời: “ Xưa kia bà đẹp nhất trần. Ngày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn”. Nghe gương trả lời, hoàng hậu giận tím người. “ Này thì đẹp này, này thì đẹp này”, hoàng hậu vừa gào, vừa đập bôm bốp vào gương. Đập chán, bà liền cho gọi người thợ săn giỏi nhất của vương quốc đến và ra lệnh: “Nhà người hãy đem con Bạch Tuyết xấu xí vào rừng, treo nó lên cành cây, và moi tim gan của nó về đây cho ta xào cần tỏi. Mau!”.  Người thợ săn vâng lệnh và đem Bạch Tuyết vào rừng. Khi ông rút dao ra, Bạch Tuyết liền khóc lóc thảm thiết: “Bác tha cho cháu bác ơiCháu xin ở lại rừng chơi suốt đờiBác về nói với bà ta. Bác vừa giết cháu chẳng tha cho về.  Tim thì bác mổ lợn xề. Gan, bác bắn hoẵng mang về lập công”. Động lòng, người thợ săn tốt bụng liền thả cho Bạch Tuyết chạy đi, rồi ồng quay trở lại lâu đài với bộ lòng lợn trên tay... Lại nói về Bạch Tuyết. Được người thợ săn thương tình, cô chạy một mạch không thèm ngoái lại vì sợ ông đổi ý. Cô cứ chạy, chạy mãi. Thú rừng gào rú xung quanh cô. Gai rừng cứa khắp người cô. Không biết cô đã phải đau đớn thế nào, chỉ biết rằng sau này thì thân thể cô chằng chịt sẹo.  Chán nản, Bạch Tuyết bắt đầu khóc. Cô khóc thương người mẹ quá cố. Cô khóc giận người cha nhu nhược. Cô khóc hận mụ dì ghẻ độc ác. Và cuối cùng, cô khóc vì sợ. Không sợ làm sao được, khi bầy thú hoang chạy xung quanh cô cứ liếm mép quèn quẹt. Cô cứ chạy như vậy không biết đã bao xa, vượt qua bao con suối, leo qua bao ngọn đồi. Thế rồi, đến lúc tưởng chừng như tuyệt vọng nhất, bỗng trước mắt cô hiện ra một ngôi nhà nhỏ. Mừng rơn, Bạch Tuyết hét to: "Y.a.h.o.o!!!!!!!, sống rồi".  Từ từ, thận trọng, Bạch Tuyết tiến lại gần ngôi nhà. "Cộc... Cộc...Cộc", cô gõ cửa. Không có tiếng đáp lại. "Kịch...Kịch...Kịch", Bạch Tuyết gõ to hơn. Không gian vẫn im lặng như tờ. "Uỳnh...Uỳnh... Uỳnh", lần này, lấy hết sức bình sinh, Bạch Tuyết mắm môi mắm lợi đạp cửa. Chỉ có tiếng ẳng của một con chó hoang giật mình kinh hãi. Bạch Tuyết thử đẩy cửa. "Xời, thế mà cứ tưởng là có khoá", cô nói thầm vì cửa mở toang. Trước mắt cô hiện ra một cảnh tượng kỳ thú mà có nằm mơ cô cũng chẳng bao giờ hình dung ra được. Đồ vật trong nhà, cái gì cũng bé tẹo, mà loại nào cũng có 7 thứ... Trong khu rừng này, không có một bóng dáng người qua lại, ngoại trừ 7 người đàn ông tí hon, hay còn gọi là 7 chú lùn. Thường ngày, cả 7 chú lùn đi làm từ sáng sớm, sau khi đã chuẩn bị cơm nước đầy đủ cho bữa tối. Họ làm cửu vạn tại một thị trấn cách đó không xa. Hôm nay, họ về muộn hơn thường nhật. Từ xa, cả 7 chú đã nhận thấy nhà mình có điều gì khác lạ so với mọi ngày. Cửa giả thì mở toang. Khói thôi toả lên từ mái bếp. Và chao ôi là thú dữ đứng xếp hàng trước cửa. Bước vào căn phòng, sự xáo trộn đầu tiên đập vào mắt các chú lùn là bàn ăn của họ.  " Ai đã uống chút nước của tôi vậy?" Chú lùn thứ nhất kêu to.  " Còn ai đã dùng chút cơm của tôi?" Đến lượt chú thứ hai ngạc nhiên.  " Ai đã ăn chút rau của tôi?" Chú lùn thứ ba thốt lên" Và ai đã xơi hết thịt của tôi?" Cuối cùng chú thứ bảy cất tiếng.  Cả bảy chú lùn đứng đưa mắt nhìn nhau. Vậy là tối nay phải ăn mì tôm rồi. Bỗng một chú hét lên: " Phòng ngủ của tụi mình đang có người trong đó". Không ai bảo ai, tất cả cũng lao vào. Và cũng không ai bảo ai, tất cả đều dừng lại trước cửa. " Chả phải em sợ đâu, nhưng anh là anh cả, anh vào trước đi, bọn em đứng ngoài cảnh giới". Chú thứ bảy nhìn anh trai, đồng thời đẩy mạnh anh vào phòng... Người anh cả bước vào phòng với chiếc cời lò trên tay. Từng bước, từng bước, chú thận trọng đi vào. Không gian im lặng đến nghẹt thở... Bỗng uỳnh. Chuột chạy loạn xạ. Chiếc cời lò rơi từ trên tay chú xuống đất lúc nào. Cảnh tượng trước mắt làm chú sững sờ, quên cả đau đớn do bị cời lò rơi vào chân. Một cô bé đẹp như thiên thần, đang nằm ngủ trên 7 chiếc giường được nàng ghép lại. Khuôn mặt cô mới thánh thiện làm sao, nếu không để ý đến gợn thịt nhỏ còn vương trên mép. Nụ cười trên môi cô càng làm cho khuôn mặt của cô thêm phần rạng rỡ. Tuy nhiên hai nắm tay cô thì lại đập liên tiếp xuống giường. Có lẽ cô đang trải qua một giấc mơ đầy biến động.  Trong cơn mơ, Bạch Tuyết thấy mình đấm túi bụi vào mặt hoàng hậu. Chịu không nổi, hoàng hậu ngã cái rầm làm cô giật mình tỉnh giấc. “A a a....... Mẹ ơi cứu con”. Bạch Tuyết hét lên hoảng loạn khi thấy 7 người đàn ông có bộ mặt cười đang ngó mình trân trân. Rồi tiếng hét cứ nhỏ dần, nhỏ dần, rồi lại vút cao. Được một lát thì tắt hẳn. Lúc này, thay vì sợ hãi, cô bắt đầu thấy tò mò với 7 con người trước mặt. Hơn nữa, cả bảy chú lùn đều tỏ thái độ rất thân thiện khiến cô cảm thấy họ thậm chí còn đáng yêu nữa là đằng khác, nếu không kể tới đôi lúc có chú lại nghiến răng ken két vì quá đói. Dần dần họ đã làm quen được với nhau.
        Cuộc sống êm ả cứ thế trôi qua. Hàng ngày, Bạch Tuyết quét dọn nhà cửa, nấu cơm đun nước, giặt giũ quần áo trong khi 7 chú lùn đi làm. Tối đến, họ cùng đánh chắn. Cả 8 người đều cảm thấy rất hạnh phúc...  Về phần dì ghẻ, đinh ninh rằng mình đã được ăn tim gan Bạch Tuyết, bà ta không thèm ngó ngàng tới gương thần. Một hôm, nhân dịp sinh nhật lần thứ 70, bà mới lại lôi gương ra và bắt đầu hỏi:“ Gương kia ngự ở trên tườngNước ta ai đẹp được dường như ta...”“ Xưa kia bà đẹp nhất trầnNgày nay Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơnNàng ta ở khuất núi nonTại nhà của bảy chú lùn xa xa”Gương thần trả lời. Và đây cũng là lần cuối cùng người ta nhìn thấy gương thần vì ngay sau câu trả lời đó, dì ghẻ vớ lấy gương và lẳng vèo ra ngoài cửa sổ vỡ tan tành.  Ngay sau đó, dì ghẻ nhằm hướng nhà của 7 chú lùn thẳng tiến, sau khi đã hoá trang thành người bán hoa quả rong với hai gánh táo trĩu nặng trên vai. Một ngày kia, trước cửa nhà của bảy chú lùn xuất hiện một bà lão với một quả táo duy nhất trong đôi quang gánh của mình. Để có thể đến được nơi, dì ghẻ phải chén dần chén mòn số táo mình mang đi. Còn quả cuối cùng, bà ta bơm thuốc độc vào một nửa rồi mang đến chỗ Bạch Tuyết:- Hỡi con gái xinh đẹp của ta. Ta mang cho con quả táo này để con ăn cho thêm phần rạng rỡ.  - Thần kinh à? Dở hơi à? Điên à? Trời không mưa sao mặc áo mưa? Bạch Tuyết đáp. Ai là con gái bà? Còn táo thì thôi khỏi, bảy chú lùn dặn rằng không được ăn đồ của người lạ.  - Cô sợ táo có thuốc độc ư? Đừng nghĩ thế phải tội, cô gái. Bây giờ thế này nhé. Ta sẽ ăn một nửa, và đưa cho con một nửa. Vậy là OK rồi chứ gì?- Thế thì quý hoá quá. Cho cháu nửa ngon ngon kia kìa.  Vừa ăn dứt miếng táo, Bạch Tuyết giật giật mấy cái rồi ngã lăn xuống đất, và dì ghẻ, bà ta cũng giật giật mấy cái vì đau khi bị Bạch Tuyết tóm lấy tóc trước khi ngã. Đau, nhưng dì ghẻ sung sướng lắm. Làm sao mà không sung sướng cho được, khi giờ đây bà đã không còn đối thủ về nhan sắc. Hạnh phúc tuyệt đỉnh, bà chạy một mạch về lâu đài, băng băng qua những con suối, nhảy vút qua các khóm bụi rậm, và giành giải nhất cuộc thi marathon vượt rào đang tình cờ được tổ chức trong vương quốc...
        Hôm nay, khác với mọi ngày, bỗng nhiên cả bảy chú lùn đều cảm thấy trong lòng có điều gì bất ổn. Tình trạng vẫn không khá hơn, sau khi cả bảy chú đã xơi gọn 7 gói xôi to vì ngỡ rằng mình đói. Trên đường về, khung cảnh dường như khác thường hơn. Thú rừng chạy tung tăng khắp nơi vì không còn lo bị những viên đạn được bắn ra từ súng săn của một ai đó nấp trong nhà. Còn chim chóc thì đậu kín trước sân. Thường ngày lấy đâu ra chim do chúng sợ sập bẫy của Bạch Tuyết đặt trước cửa nhằm cải thiện bữa ăn. Bảy chú lùn linh cảm thấy một điều gì chẳng lành khi tiến đến gần ngôi nhà. Bỗng một tiếng rú vang lên, tiếp theo là 6 tiếng rú khác: Họ nhìn thấy Bạch Tuyết nằm sõng xoài bên cửa ra vào, và trong tay nàng là một nắm tóc...  Biết rằng Bạch Tuyết đã bị dì ghẻ hãm hại, bảy chú lùn đau đớn lắm. Từ đây, cơm nước chẳng ai lo, áo quần không ai giặt. Họ khóc ròng rã ba ngày liền, đêm vẫn đi ngủ. Họ muốn chôn cô, nhưng khi thấy sắc mặt cô vẫn ửng hồng như lúc còn sống thì lại không nỡ. Họ đặt cô vào trong một chiếc quan tài bằng thuỷ tinh trong suốt, khắc tên cô bằng chữ vàng, và ghi rõ cô là một nàng công chúa. Họ mang quan tài cô lên núi rồi thay phiên nhau ngày đêm trông giữ.
         Ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, Bạch Tuyết nằm trong quan tài vẫn tươi tỉnh như khi chưa nằm trong quan tài. Da nàng vẫn trắng như tuyết, tóc vẫn đen như gỗ mun, môi vẫn đỏ như máu, và răng thì vẫn vàng khè...Một ngày nọ, có một hoàng tử tình cờ đi ngang qua. Biết được câu chuyện do các chú lùn kể lại, hoàng tử xin được mang nàng về để nhìn cho sướng. Được các chú lùn đồng ý, chàng bảo thị vệ khuân quan tài thuỷ tinh xuống núi. Bỗng nhiên, một người thị vệ vấp phải rễ cây khiến cho quan tài bị xóc mạnh. Miếng táo trong miệng Bạch Tuyết văng mạnh ra ngoài. Bạch Tuyết sống lại, và thay vào đó là một chú chó chết nhăn khi đớp phải miếng táo đó.  Nghe hoàng tử kể lại đầu đuôi câu chuyện, tất nhiên là sau khi đã thêm mắm thêm muối cho tăng phần sinh động, Bạch Tuyết liền đồng ý theo hoàng tử sang Đài Loan về ra mắt nhà bố mẹ chồng. Lễ cưới được tổ chức vô cùng sang trọng. Trong số khách mời, có cả mụ dì ghẻ độc ác. Vừa nhìn thấy Bạch Tuyết, cơn tức giận dâng trào, mụ liền ngã lăn ra chếtTuy sống trong hạnh phúc bên hoàng tử, Bạch Tuyết vẫn không quên bảy chú lùn. Nàng xin phép chồng đón bảy chú về cung và tìm được bảy cô lùn giúp các chú an hưởng tuổi già. Họ đã cùng ở bên nhau cho đến cuối đời.

Sự Tích Hoa Trinh Nữ


Thuở ấy, nhà nọ từng có hai kiếp đàn bà, cả hai kiếp đến lượt mình, đều chôn chân thờ chồng đi lính. Hai người đàn ông lần lượt ra đi, nhưng người về thì chỉ một. Người chiến binh dũng cảm ấy về làng trong tiếng tiền hô hậu ủng, xênh xang trong mũ áo vua ban và làm vẻ vang cho dòng họ. Nhưng khi đón chồng, người đàn bà thứ hai khóc


“Cân đai, mũ áo, bổng lộc vua ban… tất cả đều đẹp nhưng mái đầu ta và ông ấy tự lúc nào đã ngả sang màu sương!…”
    Vậy nên, kiếp đàn bà thứ ba vừa lọt lòng và nhoe nhoe khóc, thì cả bà, cả bố và mẹ cô bé chắp tay: “Lạy Phật! Lại thêm một cái tội nữa. Nhưng lần này, chúng ta sẽ không gả nó cho bất kỳ một người lính nào đâu nhé. Hai đời, chúng ta đã đợi chờ đến bạc tóc, thế còn chưa đủ sao?”.
    Cô bé lớn lên mơn mởn như nụ hồng. Từ nhỏ đến lớn cả nhà không cho cô được nói chuyện với bất cứ một người lính nào để cô giữ lời nguyền thuở trước.
    Một buổi sáng, xa xa vẳng tới tiếng trống ngũ liên. Cô gái bước ra vườn, đến bên bờ giậu đẫm sương. Chàng trai nhà bên đang gấp gáp khăn gói lên đường. Vốn là đôi trẻ vẫn cũng nhau chơi trò “đố lá”, họ cùng nhìn nhau rồi cùng cúi mặt, lớp lông măng ngăm ngăm trên mép chàng trai khẽ rung. Tiếng trống thúc dồn. Chàng trai đánh bạo:
    - Thế… có chờ… không?
    - Sao không hỏi xem bông tầm xuân có nở trước khi mặt trời lên không? - Cô gái cắn môi, nước mắt lăn tròn trên má.
    Và thế là mặt chàng trai đỏ đến tận chân tóc. Lâng lâng như vừa được chắp cánh, chàng bấm bụng: “Ta có thể ra đi, dù “da ngựa bọc thây”.
    Cô gái trở vào, mắt ngấn nước và thẫn thờ như người ốm, trong tiếng trống ngũ liên xa xa thúc dồn. Vậy là cả nhà biết. Họ trách lẫn nhau, rồi hai người đàn bà ôm nhau khóc. Bà cô gái thắp ba nén hương khấn người chồng quá cố: “Ông ơi! Có lẽ cháu ông đúng, bởi tôi nghiệm rằng, nếu bây giờ ông sống dậy, lại ra trận, thì tôi vẫn chờ ông. Ôi! Cái kiếp đàn bà!…”. Mẹ cô gái nức nở: “Chỉ tại mẹ thôi, chính mẹ đã truyền cho con dòng máu “đợi chờ”! Con làm sao khác được!”. Ông bố cố gạt đi: “Thì cũng phải có một đứa con gái nào đó chờ thằng bé ấy chứ, cũng như ngày xưa, trong căn nhà này bà chờ tôi vậy! Bây giờ, chỉ còn biết mong sao thằng bé ấy trở về!”.
    Nhưng thằng bé không sớm trở về. Chàng tân binh hăng hái giết giặc trong vài trận rồi ngôi sao chiếu mệnh mỉm cười với chàng ta, đấng quân vương vốn giỏi chọn người, vừa nhìn thấy chàng trai đã nhận ra ngay rằng đây là một tên lính hầu trung thành vô hạn. Thế là, ngài cho rút chàng trai về, ngày đêm cận kề bên ngài, một bước cũng không được rời xa. Khi còn giặc giã, vua cần chàng đưa vồng ngực vạm vỡ ra che làn đạn giặc, còn khi hết giặc, vua càng cần chàng hơn, để giữ gìn quyền uy tối hậu. Chàng là lưỡi kiếm “trừng phạt” tuyệt hảo, sẵn sàng giáng xuống đầu bất kỳ ai, theo lệnh đấng quân vương.
    Đã mười bảy năm rồi, cô gái chờ người lính ấy. Từ một thiếu nữ như nụ hoa chớm hé, nàng đã trở thành một cô gái quá lứa nhỡ thì. Bà nàng, rồi cha mẹ nàng theo nhau lần lượt trở về cõi Phật. Trước khi nhắm mắt, họ đều gọi con gái đến bên giường dặn dò: “Mai ngày nếu sinh con gái…”. Cô gái lặng lẽ khóc khi bà và bố mẹ mất, lặng lẽ khóc khi người yêu của chúng bạn trở về hay tử trận và cuối cùng, lặng lẽ để tang người yêu năm xưa, vì đã mười mấy năm rồi, chàng biệt vô âm tín.
    Thế rồi một buổi chiều có tiếng vó ngựa ghé sát bên thềm.
    Bước xuống từ yên ngựa là một người đàn ông phong trần và nhìn mọi vật từ trên xuống qua ánh mắt lạnh lẽo như thép. Ngang lưng anh ta thắt chiếc đai vàng vua ban. Đó là phần thưởng sau khi anh ta lập được công đâm vào lưng người bạn cũ. Người bạn này đã cả gan ngăn vua khi ngài hạ lệnh chém một danh tướng. Ông này chỉ vì mắt kém mà trót dâng vua một quả táo bị sâu ăn. Sau bữa tiệc ngập máu ấy, vua đã cất nhắc anh ta và cho phép anh ta về thăm nhà sau mười mấy năm xa cách. Mười mấy năm qua, người lính đó vẫn không quên người yêu xưa. Giữa cuộc đời bụi bậm, giữa triều đình đầy mưu kế sâu độc, cô trinh nữ nhà lành cắn môi cố nuốt giọt nước mắt chia ly vẫn không mờ nhạt mà thật lạ kỳ, lại càng như vầng trăng xa thẳm gọi anh về.
    Người con gái lỡ thì bước tới vài bước rồi sững lại. Nàng hoang mang tự hỏi, không biết đó có phải là chàng trai hàng xóm năm xưa rụt rè mãi mới dám hỏi: “Thế… có chờ… không?”. Nhưng khi người đàn ông ấy gọi tên nàng bằng giọng nói thân thuộc, nàng khóc, tiếng khóc nghe như ngàn mảnh thủy tinh rơi, vì nàng phải chờ đợi quá lâu, và người nàng chờ nay đã biến thành người đàn ông có cái nhìn lạnh lẽo như thép.
    Làng xóm đua nhau chúc mừng nàng. Các ông làm nghề “gõ đầu trẻ” đem mối tình chung thủy của hai người rao giảng trong các lớp học. Thế là từ đấy có thêm nhiều cậu bé chỉ mơ về chiến trận. Mơ về một mai mình được hầu cận đấng quân vương. Còn những cô bé thì chỉ ao ước sao mai này lớn, được chờ người yêu đến khi lỡ thì!
    Không chậm trễ gì, người ta làm lễ cưới cho đôi tình nhân chung thủy. Vua ban áo tím cho nàng trinh nữ lỡ thì và đám cưới trọng thể hết chỗ nói. Hoàng hôn xuống, cạnh chén rượu bên mâm cỗ, quan khách tròn xoe mắt nghe chú rể kể chuyện. Mười mấy năm hầu cận vua, anh ta đã quen tính kín miệng. Và chỉ bốc lên khi rượu đã ngà ngà. Nhưng anh không biết nói chuyện gì khác, ngoài chuyện chém giết. Anh kể về những bữa tiệc đầy sơn hào hải vị ngập máu trong thời bình và say sưa mô tả các kiểu chết của nhiều người khác nhau dưới tay kiếm của anh. Cuối cùng, vì sao vua đã ban cho anh ta chiếc đai vàng.
    Người trinh nữ nghe chuyện của chồng mới cưới và nàng đứng không vững nữa. Lảo đảo, nàng lùi dần về buồng. Nép mình trên giường trong bóng tối, nàng như ngửi thấy mùi tanh lợm của máu, và trên mặt nàng như có làn môi lạnh toát của những oan hồn lướt qua. Nàng vùng dậy, run lật bật, vội vàng châm lửa lên tất cả các ngọn đèn dầu lạc mà nàng tìm được trong buồng. Ánh đèn chập chờn đỏ quạch càng làm nàng thêm sợ hãi.
    Vừa lúc đó, có tiếng kẹt cửa. Thân hình to lớn của người chồng mới cưới chếnh choáng tiến vào. Theo thói quen, anh ta vẫn mang theo thanh kiếm. Nàng nhìn lên, và thấy anh không vào một mình. Theo liền sau anh là một người đàn bà trong veo, tóc xoã - chỉ có bộ tóc là còn màu sắc - mặc quần áo đại tang, đang cầm một tấm áo đẫm máu giơ lên và cất giọng đều đều một cách kỳ lạ, lặp đi lặp lại như không bao giờ dứt:
    -Hãy trả chồng cho ta! Kẻ giết bạn kia, trước khi mi bước vào giường cưới! Hãy trả cha cho năm đứa con thơ dại của ta! Hãy trả…
    Vậy mà chồng nàng không nghe thấy gì cả, anh dựng thanh kiếm vào vách, rồi xáp tới đặt tay lên ngực nàng. Ngay lúc đó, nàng nhìn thấy máu từ tấm áo trong tay người đàn bà xoã tóc rỏ xuống hai bàn tay người chồng mới cưới. Nàng ôm mặt rú lên kinh hãi:
    - Ôi kìa, máu! Máu nhiều quá! Máu đỏ cả hai bàn tay!
    Chồng nàng giật mình nhìn lại. Anh vẫn không thấy gì cả, ngoài những vết sẹo ngang dọc nơi bàn tay mình. Anh dỗ dành:
    - Ồ! Can đảm lên, cô em ủy mị! Chẳng qua là vì em quá hồi hộp đó thôi! Đã bao ngày ta chờ phút giây này. Nào, hãy vui lên.
    Anh nói vậy, nhưng miệng không cười và mắt vẫn lạnh như thép, cũng như từ ngày về đến giờ, chưa một ai nhìn thấy anh cười. Người trinh nữ bỏ hai bàn tay che mặt. Nàng không nhìn thấy người đàn bà tóc xoã nữa, nhưng trên khuôn mặt đang gần xuống mặt nàng, nàng chỉ thấy khóe miệng mím chặt và cái nhìn lạnh lẽo như cái nhìn của Thần Chết. Lại sợ hãi cuống quít, nàng van vỉ:
    -Hãy mỉm cười đi anh! Em van đấy! Hãy cười lên để em thấy anh của ngày xưa. Bao năm chờ đợi, em đâu muốn anh buồn…
    Người chồng cố hết sức để mỉm cười. Đã lâu lắm rồi anh không làm cử chỉ đó nên bây giờ anh không biết bắt đầu một nụ cười như thế nào. Khó nhọc lắm, anh mới nhớ ra rằng, khi cười người ta phải để lộ ít nhất là một hàm răng. Anh nhếch môi, để lộ hẳn hai hàm răng chắc khỏe.
    Nhưng anh quên rằng, khi người ta cười, chính đôi mắt cười trước, cái miệng cười sau, thậm chí chỉ cười bằng mắt cũng đủ. Mà đôi mắt muốn cười, trước hết tâm hồn phải cười đã, cho nên cố gắng để mỉm cười, trông anh lại thêm vẻ dữ dằn đe dọa của một con sói. Ngay lập tức, vợ anh co rúm lại và quay mặt vào trong, thổn thức cố kìm tiếng khóc.
    Người chồng buồn bã soi trong tấm gương cười, ngắm kỹ mình, rồi tuyệt vọng:
    - Thôi, thế là hết, cả một đời chờ đợi! Em chối từ ta, em ghê tởm ta ư?
    Anh rũ xuống thành giường, rồi gầm lên như một con thú bị thương:
    - Tại sao em chờ ta cả đời, để rồi chối từ ta? Tại sao em bắt ta phải cười! Còn đâu nữa chàng trai với lớp lông măng trên mép ngày xưa! Ta đã trở thành “người đàn ông không cười” của triều đình, từ khi bàn tay này nhúng vào máu bạn bè, bên những bàn tiệc đầy sơn hào hải vị. Đấng quân vương sai ta giết hết những kẻ bất tuân thượng mệnh bằng các chiếc đũa. Trong mọi chiếc đũa nạm vàng nơi bàn tiệc đều có một lưỡi dao tinh tế giấu ở trong…
    Anh nức nở, đôi vai rung lên dữ dội:
    - Ôi! Bạn ta! Người bạn đã cùng ta tựa vào lưng nhau tìm hơi ấm chống đỡ cơn gió lạnh chiến hào. Thôi, thế là hết và đây là đêm tân hôn vĩnh biệt, phần thưởng cuối cùng cho người lính quá nửa đời phụng sự đấng quân vương.
    Tiếng nức nở dữ dội của người chồng mới cưới rung chuyển cả căn phòng. Rồi xách kiếm trên tay, anh bỏ đi biệt xứ. Có người nói rằng anh đã đến tìm vua, định bắt vua phải đền tội đã biến anh thành người đàn ông không biết cười. Nhưng vua đã kịp giết chết anh trước, bằng chính một trong những chiếc đũa nạm vàng nơi bàn tiệc. Cũng có người bảo rằng anh lại lao vào những cuộc chém giết mới không ghê tay cho quên ngày tháng.
    Chỉ còn lại nơi quê nhà người trinh nữ lỡ thì. Nàng sống âm thầm như cái bóng, mà không một lần nghĩ đến chuyện tự giải thoát bằng cái chết. Nhưng cái tật hễ có tiếng chân hay tiếng động mạnh là đưa tay lên ôm mặt thì nàng không sao bỏ được.
    Một hôm, người xã trưởng được mời đến để làm giấy chứng tử cho nàng. Nàng chết mà hai tay che mặt, người khâm liệm nắn thế nào cũng không bỏ ra.
    Vài ngày sau, trên mộ nàng rùm roà mọc một loài cây thấp lòa xòa mang hình tròn tim tím buồn man mác. Mỗi khi có chân bước qua hay va chạm mạnh, những chiếc lá lăn tăn lại giật mình khép lại, xuôi xuống như bàn tay ai che mặt.
    Những loài hoa cỏ mọc đầy chung quanh lấy làm lạ lùng lắm về chuyện đó. Một hôm, chúng chặn chàng Gió lại:
    - Này, anh Gió! Ở đây, không có ai già như anh và trẻ như anh. Vậy anh hãy nói cho chúng tôi biết vì sao loài cây mới đến kia, tầm thường đến vậy, lòa xòa bên vệ cỏ, khách bộ hành dễ dàng giẫm lên, có gì đặc biệt đâu mà phải gìn giữ, hơi một tí lại lấy tay che mặt, điệu đà làm vậy?
    Từng trải như chàng Gió mà cũng không trả lời được.
    Thế là một đêm thanh tĩnh, dịu dàng, muôn hoa cỏ đang mơ màng trong giấc ngủ êm đềm, chàng Gió lướt tới bên loài cây tầm thường ấy, khẽ hỏi:
    - Này cô em bé bỏng! Sao em hay che mặt thế? Ở đây có ai chọc ghẹo em sao? Em hay e thẹn lắm à? Nếu không, tại sao người ta lại gọi em là cây trinh nữ?
    Đắn đo một chút, rồi loài cây ấy nhẹ nhàng đáp:
    - Không phải thế đâu, mặc dù chết đi, em vẫn là trinh nữ. Em che mặt vì sợ. Ngày nay người ta càng tranh giành nhau dữ hơn, những bàn tiệc ngập máu vẫn còn nhiều. Vậy nên, mỗi va chạm, mỗi bước chân tạt qua đều làm em giật thót mình. Em sợ người ta sẽ gửi đến cho em đôi bàn tay đầy máu và khuôn mặt người yêu xưa chẳng biết cười.
    Cây trinh nữ chợt co mình lại vì vừa nghe tiếng chân qua. Đó là bước chân sóng đôi của một đôi trai gái đang đi trong sương mù. Trước khi cẩn thận khép những mắt lá lại, cây trinh nữ cầu khẩn: “Ôi! Lạy Phật! Cầu cho đây không phải là bước chân của những người phải tiễn nhau về nơi ấy…”. 

Tấm Cám


Ngày xưa, con Tấm, con Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Bố chúng nó mất rồi, mẹ con Tấm cũng mất rồi. Tấm ở với con Cám và dì ghẻ là mẹ con Cám. Một hôm dì đưa cho mỗi đứa một cái giỏ, bảo đi bắt tôm bắt tép. Dì hứa rằng: "Hễ đứa nào bắt được nhiều thì cho yếm đỏ".
    Hai


đứa cùng mang giỏ đi ra đồng, Tấm bắt được nhiều, Cám bắt được ít. Cám bảo rằng: "Chị Tấm ơi chị Tấm, đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng".
    Lúc con Tấm hụp xuống thì con Cám ở trên bờ trút lấy cả tôm tép của con Tấm vào giỏ mình rồi mang về trước. Con Tấm lên dòm đến giỏ thì thấy mất cả, nó mới khóc hu hu lên.
    Bụt hiện lên hỏi: "Làm sao con khóc"? Con Tấm kể sự tình cho Bụt nghe rồi lại khóc. Bụt bảo nó dòm vào giỏ xem có còn gì không. Con Tấm dòm vào thì chỉ thấy có một con bống mà thôi. Bụt mới bảo đem thả con bống xuống dưới giếng mà nuôi; cứ một ngày hai lần, mỗi bữa cơm đáng ba bát thì ăn hai còn bớt một bát để cho bống. Lúc đổ cơm xuống giếng thì bảo thế này: "Bống ơi bống! lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người".
    Con Tấm nghe lời Bụt đem thả bống xuống giếng. Cứ đến bữa cơm nó ăn xong lại mang thùng ra giếng gánh nước, giấu bát cơm vào thùng đem cho bống. Lúc đổ cơm xuống giếng thì nói như lời Bụt dặn. Bống nghe thấy chẳng lần nào là không lội lên mặt nước để ăn.
    Đến sau, mẹ con Cám biết ý mới cho đi rình. Con Cám lẻn đi thấy con Tấm đổ cơm xuống giếng và nói mấy lời như thế, thì nó học thuộc lòng lấy rồi về thưa chuyện lại cho mẹ nó nghe.
    Hôm sau, mẹ con Cám bảo Tấm rằng: "Con ơi con! mai đi chăn trâu phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng gần mà làng bắt mất trâu".
    Con Tấm vâng lời, hôm sau phải dắt trâu đi chăn đồng xa, ở nhà hai mẹ con con Cám đem bát cơm ra giếng, đổ xuống đấy rồi cũng nói như con Tấm nói mọi khi. Bống lội lên mặt nước thì mẹ con con Cám bắt lấy mang về làm thịt ăn.
    Đến bữa cơm, con Tấm lại cứ đem cơm ra cho bống. Nhưng bận này không thấy bống nữa, chỉ thấy cục máu nổi lên mặt nước. Nó mới khóc òa lên. Bụt lại hiện lên hỏi: "Làm sao con khóc"? Con Tấm thưa rằng: "Con nuôi bống ở dưới giếng, mọi khi cho nó ăn nó vẫn lội lên mặt nước, mà hôm nay con đem cơm cho nó, không thấy nó nữa, chỉ thấy một hòn máu". Bụt bảo rằng: "Người ta bắt bống ăn thịt rồi. Con về nhà nhặt lấy xương nó. Con mua bốn cái lọ bỏ vào đấy rồi đem chôn ở bốn góc giường con nằm".
The image “images/news/Image/2008/10/10/TamCam.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.

    Con Tấm nghe lời Bụt, về nhà tìm xương bống. Có một con gà bảo nó rằng: "Cục ta cục tác, cho ta nắm thóc ta bới xương cho". Con Tấm lấy thóc ném cho gà, gà bới một chỗ thì thấy xương ngay. Tấm nhặt lấy bỏ vào lọ rồi đem chôn.
    Được ít lâu nhà vua có mở hội. Hai mẹ con con Cám sắm sửa đi xem. Mẹ con Cám lấy một đấu thóc và một đấu gạo, trộn lẫn với nhau, rồi bắt con Tấm phải lựa riêng ra. Dì con Tấm bảo nó thế này: "Lúc nào mày nhặt xong thì mới được đi xem hội, hễ chưa xong thì không được đi". Nói thế rồi hai mẹ con nó đi. Con tấm ở nhà khóc. Bụt lại hiện lên hỏi: "Làm sao con khóc"? Nó thưa rằng: "Con khổ quá, dì con bắt phải nhặt bấy nhiêu thóc gạo, xong thì mới được đi xem hội. Đến lúc nhặt xong thì hết hội còn gì mà xem". Bụt bảo rằng: "Để ta cho một đàn chim sẻ xuống nhặt đỡ". Con Tấm sợ chim ăn mất thì dì về nó phải đòn. Bụt lại bảo rằng: "Rồi ta cấm không cho chim ăn, con đừng lo".

Tam Cam



    Đến khi lựa riêng xong rồi, con Tấm lại khóc. Bụt lại hỏi: "Làm sao con khóc"? Nó thưa rằng: "Con không có quần áo đẹp để đi xem hội". Bụt bảo rằng: "Con đi đào những cái lọ đã chôn ngày trước lên, thì muốn quần áo đẹp thế nào cũng có". Tấm mới đào lên, thì thấy quần áo, một đôi giày và một con ngựa. Tấm mừng quá, thắng bộ vào rồi đi xem hội.
    Lúc Tấm đi qua bờ hồ, đánh rơi chiếc giày, không sao lấy lên được. Một lát sau, vua ngự đến gần đấy, voi đứng dừng lại kêu rầm rĩ lên. Vua thấy sự lạ mới phán cho quân lính phải xuống hồ, xem có cái gì lạ không. Tức khắc lính xuống hồ, mò thấy một chiếc giày đàn bà đẹp lắm. Vua phán cho tất cả con gái đi xem hội ướm thử. Hễ chân ai đi vừa thì vua lấy làm vợ.
    Trong đám hội ai cũng ướm cả, cả mẹ con con Cám cũng chẳng từ. Nhưng chẳng có chân ai vừa, Tấm cũng xin ướm thử. Dì nó mắng rằng: "Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh bỏ ngoài bờ tre". Đến lúc Tấm ướm thì vừa vặn. Lính thị vệ đem ngay kiệu rước về cung.
    Đến ngày giỗ bố, Tấm về nhà. Dì nó bảo nó trèo lên cây cau cắt mấy quả để cúng. Lúc Tấm trèo đến ngọn cây, thì dì nó đẵn gốc. Tấm thấy động bèn hỏi: "Dì làm gì ở dưới ấy thế"? Dì nó bảo rằng: "Dì đuổi kiến cho nó khỏi đốt con đây mà". Lúc đang cắt cau thì cây đổ, Tấm ngã xuống ao chết đuối. Dì nó lấy quần áo của nó mặc vào cho con Cám rồi đưa vào cung.
    Con Tấm hóa ra chim vàng anh đến đậu ở vườn nhà vua, bảo lính giặt áo rằng: "Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi hàng rào rách áo chồng tao". Một hôm vua nghe tiếng chim hót, phán rằng: "Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh chui vào tay áo". Chim nhảy ngay vào, vua bắt bỏ vào lồng sơn son thếp vàng. Từ đấy cả ngày cả đêm vua chỉ chơi với chim.
    Con Cám kể với mẹ, mẹ xui bắt chim làm thịt ăn. Về đến cung nó sai ngay lính giết chim ăn thịt, rồi vứt lông ra vườn. Lông chim hóa ra hai cây soan đào. Vua thấy đẹp, mắc võng vào hai cây ấy, rồi nằm chơi dưới bóng mát.
    Con Cám về mách mẹ, và cứ theo lời mẹ xui, nó bắt lính đẵn cây lấy gỗ đóng làm khung cửi. Đến lúc dệt thì nghe tiếng kêu: "Kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra".
    Con Cám lại về mách mẹ. Mẹ nó xui đốt khung cửi, nó cũng sai lính làm ngay. Những than tro lúc đổ ra đường lại hóa ra cây thị, chỉ có một quả đẹp lắm. Bà lão hàng nước đi qua thấy quả thị đẹp, bảo rằng: "Thị ơi thị! rụng vào bị bà, bà đem bà ngửi chớ bà không ăn". Thị rụng ngay xuống, bà ta lấy mang về nhà.
    Ngày nào đi chợ sắm đồ hàng, khi về cũng thấy cơm canh để phần tươm tất lắm, bà ta lấy làm lạ. Một lần bà lão giả vờ đi chợ, đến nửa đường thì lộn về. Rón rén lại dòm vào khe cửa, thấy có một cô tiên đang làm đồ ăn, bất thình lình bà ta chạy vào, thì cô tiên lộ cơ không biến đi được. Bà ta mừng lắm ôm choàng ngay lấy. Từ đấy thương yêu nhau như hai mẹ con. Lúc bà ta đi tìm quả thị thì chỉ thấy có cái vỏ không mà thôi. Bà ta lấy xé vụn ra rồi giấu biến đi một chỗ.
    Có một hôm vua dạo chơi gần đấy, thấy trong hàng có một bà lão phương phi và phúc hậu, vua mới ghé vào. Bà ta lấy trầu nước kính dâng. Vua thấy trầu têm giống như hoàng hậu têm ngày trước, phán hỏi: "Trầu này ai têm"? Bà ta tâu là của con gái têm. Vua phán muốn xem mặt, bà ta bảo ngay con ra, thì chính là vợ vua ngày trước. Vua phán bảo rước về cung, Tấm lại làm hoàng hậu.
    Con Cám thấy chị xinh đẹp mới hỏi rằng: "Chị Tấm ơi, chị Tấm! chị làm thế nào mà đẹp thế"? Tấm bèn bảo: "Em có muốn đẹp không"? Cám thưa chị có. Tấm bèn sai đào một cái hố sâu và đun một nồi nước to thực sôi, rồi bảo con Cám xuống cái hố ấy. Lúc Cám bước xuống hố thì Tấm sai đổ nước sôi xuống. Con Cám chết nhăn răng ra. Xác nó bỏ vào chĩnh, làm mắm đem biếu mẹ nó, bữa nào mẹ nó ăn cũng khen ngon. Có con quạ đậu trên mái nhà, kêu rằng: "Ngon gì mà ngon, ăn thịt con có còn xin miếng"? Mẹ nó giận lắm, mắng chửi quạ rầm rĩ lên và đuổi nó đi cho mau. Đến khi ăn gần hết mắm, thấy ở đáy chĩnh có đầu lâu con, thì lăn đùng ra chết tươi.
    * * *
    Có thuyết cho rằng Tấm Cám là nhân vật có thực ở ngoài đời, sinh vào thời triều Lý, cùng một thời với Lý Thường Kiệt, vị danh tướng đã đại phá quân nhà Tống. Đền thờ Tấm Cám gần đây còn dấu vết tại làng Dương Xá thuộc huyện Siêu Loại, tỉnh Bắc Ninh. Cứ theo khẩu truyền của bô lão cùng dân trong làng và văn cứ vào ngọc phả thần tích tại đền thờ Đức Bà (Tấm Cám) và đền thờ tướng quân Lê Thiệ, là dòng dõi Tấm Cám ở làng nói trên, thì câu chuyện khác với sự tích ta thường nghe kể cùng chuyện Tấm Cám bằng văn vần.
    Tục truyền rằng phụ thân Tấm Cám tên húy là Lê Đại, mẫu thân là Vũ Thị Tĩnh, kế mẫu tức gì ghẻ cô Cám (chứ không phải cô Tấm) là người họ Chu. Cô Cám còn có tên chữ là Khiết Nương. Năm Cám lên ba thì mồ côi mẹ, 12 tuổi thì mồ côi cha. Em gái Cám do Chu Thị sinh ra tên là Tấm.
    Sử chép rằng vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà chưa có con, đi cầu tự qua làng Thổ Lợi (sau đổi là Dương Xá) thuộc Bắc Ninh, người đi xem đầy đường. Có một cô gái đẹp đi hái dâu, thấy xa giá nhà vua đi qua, cứ đứng tựa khóm lan chớ không ra xem. Vua để ý đến người đẹp, truyền gọi vào cung, tuyển làm nàng phi, đặt tên là Ỷ Lan.
    Trong lúc vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành vắng, Ỷ Lan ở nhà có mang, Dương Hoàng Hậu không có con nên sinh ghen ghét, sợ nàng sinh được hoàng nam thì sẽ được vua sủng ái cất nhắc lên hơn mình. Dương Hậu mới biên thư tâu man với vua rằng mình có thai rồi độn bụng cho mỗi ngày một lớn thêm. Đến khi Ỷ Lan sinh hạ hoàng tử, Dương Hậu liền sai người bế trộm về nuôi, và giam Ỷ Lan lại, rồi gởi giấy báo tin cho vua đang ở đất Chiêm hay là mình sinh được hoàng nam, còn Ỷ Lan thì đẻ ra quái thai, chiếu tội cung nữ đã bắt giam vào lãnh cung.
    Dương Hậu muốn ngầm giết Ỷ Lan nên trong khi giam cầm ở lãnhcung, năm ngày liền bắt nàng nhịn cơm để cho chết. Ỷ Lan nhờ người thân lượm trái thị chín rụng ở gần đó trao cho ăn mà sống được cho đến khi vua Thánh Tông trở về triều.
    Thái Tử con Ỷ Lan bị Dương Hậu nhận làm con mình, vua Thánh Tông cũng tin thật, đặt tên là Càn Đức. Đến khi Càn Đức lên ngôi vua, tức là Lý Nhân Tông, mẹ đẻ là Ỷ Lan vẫn bị giam cầm ở lãnh cung mà không biết. Nhờ sư cụ Đại Điên mách bảo, mấy tháng sau khi lên ngôi vua, Nhân Tông mới biết chuyện, bèn bắt tội Dương Thái Hậu và cung nữ đã gạt tiên đế mà làm tội oan Ỷ Lan Thái Hậu (Cám).
    Trước đó, em Cám là Tấm vào cung thăm chị, vua thấy nhan sắc liền nạp cung. Dương Hậu thấy hai chị em Ỷ Lan được vua sủng ái thì ghen ghét, rồi thừa lúc vua đi đánh giặc vắng, Dương Hậu độn bụng giả có thai, sợ lộ chuyện sau này, mới ngấm ngầm sai giết Tấm đồng thời giam Cám (Ỷ Lan) vào lãnh cung rồi định bỏ cho chết. Chu Thị được tin con mình là Tấm bị hại và con ghẻ là Cám bị giam cầm thì buồn rầu ốm mà chết. Sau khi được con là vua Nhân Tông gỡ hàm oan, Ỷ Lan được phong làm Hoàng Thái Hậu. Ỷ Lan vốn là người mộ đạo Phật, đi lễ vái khắp các đền chùa, và cuối cùng mất ở một ngôi chùa thuộc hạt Gia Lâm ngày nay.
    Chuyện Tấm Cám của ta một phần lớn đã phỏng theo câu chuyện của Chiêm Thành, cùng là do chuyện lịch sử trên đây mà thêu dệt thêm theo tình cảm của dân tộc, qua bao nhiêu đời vẫn tồn tại trên cửa miệng người Việt Nam.

Sự Tích Chú Cuội Cung Trăng


Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên



mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.
    Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:
    - Trời ơi! Cây này chính là cây có phép "cải tử hoàn sinh" đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó!
    Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.
    Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.
    Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.
    Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội.
    Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được.
    Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.
    Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: "Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!". Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.
    Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.
    Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng.
    Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn, khi lá xuống đến mặt nước là chúng tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng. Nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa....

  Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
    Thả trâu ăn lúa gọi cha ồi ồi
    Cha còn cắt cỏ trên trời
    Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên
    Ông thời cầm bút cầm nghiên
    Bà thời cầm tiền đi chuộc lá đa.

Sự Tích Con Cóc


Trong nhà nọ có hai chị em, mỗi người một tính nết. Người chị xinh đẹp, tham lam và lười nhác. Người em bị què tay, nhưng rất siêng năng làm lụng. Người chị cậy khoẻ, cậy xinh, sáng trưa chiều tốt chỉ luẩn quẩn nào gương nào lược. Chơi bời vô độ nên chẳng bao lâu người chị đã gầy khô hơn que củi mặt mũi héo tóp như một xác chết. Người



em mang tật: Tay phải co quắp từ thửa lọt lòng, mọi việc như cầm dao, cầm cầy, vốc cơm ăn cũng nhờ ở bàn tay bên trái. Quanh năm chỉ có một bộ váy áo chăn rách như tổ đỉa. Một hôm nọ, trời làm lũ lụt lớn, nước ngập hết làng, cây cỏ lúa, ngô hết chỗ cắm chân, người em bèn ngồi ôm lấy chóp núi đá, kêu trời gọi đất. Mệt quá, người em ngủ thiếp đi ba ngày bẩy đêm liền, thấy em ngủ lặng, người chị ngỡ là em đã chết, bèn cưỡi bè chuối chèo đi, bỏ mặc em trên chóp núi. Người em mở mắt choàng dậy thì nước vẫn chưa rút. Ðợi khi mặt trời đến người em liền kêu to:
    - Ơi, ông trời!
    Ông trời dừng lại hỏi:
    - Cháu muốn gì?
    Người em nói:
    - Ông cứu lấy chị cháu, chị cháu bị nước lũ nhận chìm mất rồi. Ông cứu được, cháu muốn chị ấy lấy được ông Mặt Trời làm chồng.
    Ông mặt trời cười bảo:
    - Chị cháu đến nhà tiên ông rồi. Cháu hãy reo hạt này ở chóp đá của cháu thì cháu muốn cái gì cũng được cái ấy.
    Nói xong, ông Mặt Trời lại lặn đi. Cũng lúc ấy người chị chèo bè chuối đến gõ cửa nhà Tiên ông, bè chuối giạt lên sân thì người chị hò hét:
    - Cho tôi gặp chàng tiên đẹp nhất!
    Tiên ông nhìn ra thấy có người con gái lạ, lại đòi gặp tiên, liền mời vào nhà. Người chị nói luôn:
    - Tôi không lấy ông đâu, ông già và xấu quá, cho tôi lấy chàng tiên đẹp nhất.
    Tiên ông gật đầu bảo:
    - ừ!
    Nói rồi, Tiên ông khoát tay một cái, lập tức từ trong nhà có một chàng trai đi ra, nắm lấy tay người chị. Chàng trai là dòng họ của Cóc tía, cho nên tiên ông đặt tên chàng là chàng Cóc tía. Từ đấy, vợ chồng người chị sống cuộc sống sung sướng trong cảnh tiên.
    Người em gieo cái hạt của ông mặt trời cho vào kẽ đá, nàng lấy bàn tay trái của mình vơ rêu lá, giật cả vạt áo mình phủ cho hạt được nguyên lành. Chẳng bao lâu từ kẽ đá vươn ra một cây bầu, quả to như cái sọt. Nàng lăn bầu xếp ra rìa núi. Núi bầu cứ nối nhau, nối nhau mọc ra, vùng nước lũ cứ thu hẹp dần nhường chỗ cho bầu ở.Một ngày kia, người tiên thấy có nhiều núi nhỏ lên chật cả gầm trời. Vợ chồng Cóc Tía nhìn xuống thì thấy người con gái cầm dao bằng tay trái cứ quần quật bổ bầu ra chia cho mọi người. Người chị nhận ra kẻ ngồi với núi bầu là đứa em của mình, lòng ghen ghét lại nổi lên. Mụ liền kéo tay chồng bảo:
    - Cái con què đó còn sống, nó có nhiều bầu kia kìa.
    Chàng Cóc Tía chưa kịp hỏi thêm đầu đuôi ra sao thì mụ đã nắm tay chồng bảo nhảy ào xuống các chỏm núi bầu. Nhẩy khỏi nhà trời, vợ chồng hắn hiện nguyên hình một đôi Cóc Tía. Ðôi vợ chồng Cóc Tía ngồi chồm chỗm trên một quả bầu. Người em hỏi:
    - Con muốn gì?
    Cóc nói:
    - Ta muốn nhận mày là em gái.
    Người em lắc đầu:
    - Chị ta lên trời lâu rồi.
    Cóc bảo:
    - Tao là chị đây, còn đây là anh rể của mày.
    Người em ngồi nghe Cóc Tía vợ kể lại chuyện cũ gặp lũ to, chèo bè chuối lên trời ra sao... Nghe mãi rồi tin lời Cóc là phải. Người em liền nhận anh chị và cho ở chung trên ngọn núi cùng chăm nom dây bầu với mình. Khi ấy, ông Mặt trời đi qua, dừng lại nói với người em:
    - Anh chị đã về với cháu đấy.
    Người em nói:
    - Vâng.
    Ông mặt trời bảo:
    - Bây giờ ta cho cháu một người chồng, cháu hãy bổ quả bầu xấu nhất ra thì gặp chồng.
    Người em liền bổ quả bầu vặn vẹo xấu xí, vỏ bầu tách ra thì có một chàng trai khôi ngô, tuấn tú hiện ra nhận là chồng của người em, Hai vợ chồng người em lại lấy quả bầu xếp bậc xuống thấp dần. Họ xếp quả bầu đến đâu thì mực nước lui xuống đến đó. Ðồng ruộng làng mạc lại hiện về như xưa. Bà con làng xóm trở về làm ăn sing sống yên ấm.
    Cũng từ đấy vợ chồng Cóc Tía được người em đưa xuống cùng ăn ở, làm lụng với dân bản. Người chị không còn ghen ghét với em gái như xưa nữa

Vụ Án " Rắn Giả Lươn "


Bùi Cầm Hồ là người làng Đỗ Liêu, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tỉnh được giữ chức Ngự sử trung thừa kiêm Tham chi chính sự dưới triều vua Lê Nhân Tông. Đó là một con người thông minh, trung thực và thẳng thắn. Việc thanh tra phá án của ông nổi tiếng là sáng suốt, có tình có lý được dân mến mộ và ủng hộ, sử sách ngợi ca. Với Bùi Cầm H


Hồ không một thế lực uy danh nào có thể làm sai lệch công việc, cản ngăn quyết định của ông.
Một trong những vụ án mà ông xét xử là vụ “chinh phụ giết chồng”. Chuyện kể rằng, hồi đó ở ngoại ô kinh thành Thăng Long có một đôi vợ chồng nhà lái buôn nọ sống rất hoà thuận, êm đềm. Một ngày kia trước lúc chồng đi xa, người vợ liền đi mua lươn về để nấu cháo cho chồng ăn – món ăn mà người chồng rất thích. Nào ngờ vừa ăn xong lái buôn lăn ra chết không hề trăn trối được một lời. Lập tức chị ta bị chức sắc địa phương trối gô lại và dẫn lên Huyện đường xét xử. Chị đã bị ghép vào tội “Mưu sát chồng vì ngoại tình”. Người đàn bà đó dập đầu kêu oan nhưng sau đòn tra khảo cực hình không chịu đựng nổi nên đành phải nhận tội. Thế là án quyết xử hành hình bằng hình thức voi giày, chỉ chờ ngày thực hiện.

Vụ án kinh động đó đã lan về Kinh Thành và đến tay Bùi Cầm Hồ. Ông suy nghĩ rất nhiều, phải chăng người đàn bà ấy đã vô tình mua nhầm loại rắn độc mình lươn lẫn trong đống lươn mà sinh ra tai hoạ. Bởi ông đã nhiều năm làm nghề khai khẩn đất hoang, và xuất thân từ vùng nông thôn nên hiểu rất rõ về loài rắn và lươn. Ông ngầm cho người ra cái chợ mà vợ lái buôn nọ đã tới và mua một mớ lươn về, chọn ra mấy con rắn độc mình lươn đem cho chó ăn, quả nhiên chó lăn đùng ra chết.

Thế là người đàn bà góa bụa thương tâm ấy thoát khỏi án voi giày nghiệt ngã. Đâu đâu người ta cũng trầm trồ khen tài đức của quan ngự sử Bùi Cầm Hồ. 

Cây Tre Trăm Đốt



Ngày xưa, có một ông già nhà quê có một cô gái đẹp. Trong nhà phải thuê một đầy tớ trai, ông ta muốn lợi dụng nó làm việc khỏi trả tiền, mới bảo nó rằng: "Mày chịu khó làm ăn với tao rồi tao gả con gái cho". Người ở mừng lắm, ra sức làm lụng tới khuya không nề hà mệt nhọc. Nó giúp việc được ba năm, nhà ông ta mỗi ngày một giàu có




http://img.thethaovanhoa.vn/Images/Uploaded/Share/2009/02/20090208042816289/tre3.jpg

Ông nhà giàu không còn nghĩ đến lời hứa cũ nữa, đem con gái gả cho con một nhà phú hộ khác ở trong làng. Sáng hôm sắp đưa dâu, ông chủ gọi đứa ở lên lừa nó một lần nữa, bảo rằng: "Bây giờ mày lên rừng tìm cho ra một cây tre một trăm mắt đem về đây làm đũa ăn cưới, thì tao cho mày lấy con gái tao ngay".

Đứa ở tưởng thật, vác dao đi rừng. Nó kiếm khắp nơi, hết rừng này qua rừng nọ, không tìm đâu thấy có cây tre đủ trăm mắt. Buồn khổ quá, nó ngồi một chỗ ôm mặt khóc. Bỗng thấy có một ông lão râu tóc bạc phơ, tay cầm gậy trúc hiện ra bảo nó: "Tại sao con khóc, hãy nói ta nghe, ta sẽ giúp cho". Nó bèn đem đầu đuôi câu chuyện ông phú hộ hứa gả con gái cho mà kể lại. Ông lão nghe xong, mới bảo rằng: "Con đi chặt đếm đủ trăm cái mắt tre rồi đem lại đây ta bảo".

Nó làm theo y lời dặn, ông dạy nó đọc: "Khắc nhập, khắc nhập" đủ ba lần, thì một trăm khúc tre tự nhiên dính lại với nhau thành một cây trẻ đủ một trăm mắt. Nó mừng quá, định vác về, nhưng cây tre dài quá, vướng không đi được. Ông lão bảo nó đọc: "Khắc xuất, khắc xuất" đúng ba lần thì cây tre trăm mắt lại rời ra ngay từng khúc.

Nó bèn bó cả lại mà gánh về nhà. Đến nơi thấy hai họ đang ăn uống vui vẻ, sắp đến lúc rước dâu, nó mới hay là ông chủ đã lừa nó đem gả con gái cho người ta rồi. Nó không nói gì, đợi lúc nhà trai đốt pháo cưới, bèn đem một trăm khúc tre xếp dài dưới đất, rồi lẩm bẩm đọc: "Khắc nhập, khắc nhập" cho liền lại thành một cây tre trăm mắt, đoạn gọi ông chủ đến bảo là đã tìm ra được, và đòi gả con gái cho nó. Ông chủ lấy làm lạ cầm cây tre lên xem, nó đọc luôn: "Khắc nhập, khắc nhập", thì ông ta bị dính liền ngay vào cây tre, không làm sao gỡ ra được. Ông thông gia thấy vậy chạy đến, định gỡ cho, nó lại đọc luôn: "Khắc nhập, khắc nhập", thì cả ông cũng bị dính theo luôn, không lôi ra được nữa.

Hai họ thấy thế không còn ai dám lại gần nó nữa. Còn hai ông kia không còn biết làm thế nào đành van lạy xin nó thả ra cho. Ông chủ hứa gả con gái cho nó, ông thông gia xin về nhà ngay, nó để cho cả hai thề một hồi rồi nó mới đọc: "Khắc xuất, khắc xuất" thì hai ông rời ngay cây tre, và cây tre cũng rời ra trăm khúc.

Mọi người đều lấy làm khiếp phục đứa ở, ông chủ vội gả con gái cho nó, và từ đó không còn dám khinh thường nó nữa 
»

Vì sao tôi hút thuốc (Truyện cực ngắn - S.Antov)

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2004


 [QH Blog] Thời gian gần đây ta cảm thấy mệt mỏi quá. Công việc ngập đầu. Còn chút thời gian lên mạng cũng bị cướp mất. Suốt ngày thử thuốc ngoài đồng, về nhà viết báo cáo, sếp thúc đít liên tục cảm thấy kiệt sức, thỉnh thoảng lại có những cơn đau ở ngực trái, không hiểu là đau tim hay đau phổi...Có lên bỏ thuốc trong tình trạng này..

.


không nhỉ. Cái hại thì quá nhiều mà cái lợi thì quá ít. Tranh thủ tí lên mạng tìm cách bỏ thuốc thỉ search ra cái nì...T_T. Có nên bỏ thuốc không nhể ?

Vì sao tôi hút thuốc (Truyện cực ngắn - S.Antov)
Một con người có lòng tự trọng có bao giờ ngửa tay xin tiền người qua đường không?Không đời nào!Không bao giờ!Ngay cả khi trong túi không có nổi năm xu để mua vé tàu điện.
Khi một con người tự trọng gặp phải chuyện buồn phiền liệu anh ta có sẵn sàng chia sẻ nỗi lòng mình với những người xa lạ?Không !Tất nhiên là không rồi.
Nhưng liệu ai trong số những người hút thuốc lại không một lần xin diêm hay thuốc lá của những người hoàn toàn xa lạ cơ chứ.Người ta xin ở khắp mọi nơi, bằng mọi thứ tiếng khác nhau:"Xin lỗi, anh làm ơn cho xin tí lửa!".
Và người kia sẽ rút ra bao diêm, quẹt lửa, rồi đưa que diêm đã cháy cho bạn.Trong khoảnh khắc nào đó bàn tay của hai người chạm vào nhau, truyền cho nhau ngọn lửa nhỏ.
Sau đó,có một người khác lại đến châm nhờ thuốc, bạn sẽ đưa cho anh ta điếu thuốc đang hút dở.Trong một giây phút bàn tay hai người xa lạ lại chạm vào nhau.
Và sẽ mãi là như thế chừng nào trên trái đất này còn có người hút thuốc.Những đốm lửa nhỏ li ti cứ truyền từ người này sang người khác đi khắp mọi nơi trên trái đất.Bởi vì ở đâu có ngưòi hút thuốc dù ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Úc hay Châu Mĩ.
Và chừng nào bàn tay của con người còn chạm vào nhau, gin giữ ngọn lửa nhỏ, gìn giữ hơi ấm thì trên hành tinh này chắc sẽ bớt đi phần nào những điều xấu xa.
Có lẽ chỉ vì lý do ấy mà tôi không bỏ thuốc.Vì biết đâu một lúc nào đó lại chẳng có người hỏi tôi :"Xin lỗi, anh làm ơn cho xin tí lửa".

Giấc mơ vàng


Lão đeo đuổi một ảo tưởng về sự giàu sang nhưng đến hơn nửa đời người, lão mới nhận ra đâu là giấc mơ vàng thực sự. ảnh minh họa Lão nheo mắt nhìn theo vệt nắng cuối ngày. Ánh sáng loang mờ trước mắt, rồi lịm dần, lịm dần. Trời chạng vạng. Tiếng ễnh ương rền rền lẫn trong cây, trong đá thi thoảng vang lên. Lão đứng phắt dậy, chui vội



vào túp lều, vụng về nhóm bếp. Vài sợi khói len nhè nhẹ, tỏa mong manh. Sự ấm áp đơn điệu ấy vẫn không thể xoá tan cái hiu hắt của buổi chiều tàn, càng không thể xoa đi nỗi hiu hắt trong lòng lão. Mắt lão khẽ chớp lia lịa...
Túp lều nằm lọt thỏm giữa bốn bên rừng núi. Ngày lão về sống luôn ở quê, mẹ lão mừng rưng rưng, gom góp vài đồng tiền dành dụm bấy lâu dựng cho lão túp lều. Hơn 40 năm của đời người, về với mẹ, lòng lão như đứa trẻ lỗi lầm thèm mong mẹ tha thứ. Nhìn dáng mẹ gầy còm,đôi mắt lem nhem âu yếm nhìn mình, lão tưởng như vừa mới đi qua cơn say, bất chợt tỉnh dậy thấy miệng đắng nghét, lòng quá đỗi chông chênh.
Chú Tư ơi! Ngủ chưa chú?
Giọng thằng Phi, con mụ Miên ở cạnh nhà mẹ lão, làm đứt ngang những suy nghĩ miên man.
Có chuyện gì không?
Lão vén tầm màn nói vọng ra mà không buồn đứng dậy. Thiệt tình lão không ưa lắm mẹ con thằng Phi. Lão ghét tiếng trẻ con, càng ghét cay ghét đắng những loại đàn bà như mụ Miên với lão. Nghe đâu mụ góa chồng bốn, năm năm gì đó. Ngày lão mới đặt chân vào nhà, mẹ lão đã cố tình kể nhiều chuyện về mụ Miên cho lão nghe, nào là: "Tội con Miên, cưới nhau được mặt con thì chồng chết. Chồng nó đi đãi vàng, bị sập hầm, chết mấy năm rồi mà vẫn chưa tìm được xác, mà hình như người ta lấp luôn cái hầm đó rồi. Khổ thằng Phi, mới mấy tuổi đầu đã mồ côi cha..."
Lão chưa kịp hỏi câu thứ hai, giọng thằng Phi lại vang lên:
Chú Tư, mẹ con đúc bánh xèo, hai mẹ con con đem vô mấy cái cho chú.
Nghe đến "hai mẹ con con" lão thấy bực kinh khủng. Lão đi ra cửa, thằng Phi đứng nép bên mụ Miên, còn mụ khúm núm dưới lùm chuối. Lão chưa kịp nói năng gì, mụ Miên lí nhí:
Anh Tư,lúa mới nên làm bánh thơm ngon lắm. Anh cầm lấy cho thằng Phi nó mừng.
Tự dưng cổ họng lão bị chặn lại. Nghĩ mãi không nặn ra được chữ nào để la, để chửi. Lòng lão còn nóng bừng bừng, mặc dù biết rõ họ chả có tội tình gì. Lão thấy khó chịu. Cái khó chịu của gã đàn ông đã quen với cảnh cô đơn, nay bỗng có người quan tâm đến. Thằng Phi dúi vào tay lão bịch ni-lông đựng bánh nóng hôi hổi.
Thôi tối rồi cô dẫn cháu về đi. Bữa sau đừng làm tôi khó xử nữa. Tôi không đến nỗi đói đâu...
Biết câu nói sau là không phải, vậy mà lão vẫn nói. Tệ thật. Ánh mắt thằng Phi nhìn lão ươn ướt, còn mẹ nó nhìn lão một cái rõ lâu rồi mới quay ngoắt đi. Mặc kệ.
Lão gác tay lên trán. Âm thanh của rừng càng về khuya càng mơ hồ. Nghe như vừa xa vừa gần, vừa rõ mồn một vừa rin rít những thanh âm không tên. Mắt nhắm nghiền. Lão thấy khúc sông đục ngầu thấp thoáng bóng người khom mình hì hục đãi đãi sàng sàng. Những cái hầm đãi vàng sâu hoắm, tối om. Rồi hình ảnh ông Hai Tham quát tháo một người đàn ông nhem nhuốc vừa ngóc đầu lên khỏi miệng hầm.
Đột nhiên lão thấy sống lưng rờn rợn. Một bàn tay sần sùi nắm lấy tay lão ấn mạnh xuống đất, bàn tay kia sờ soạng khắp người lão kèm theo tiếng thì thào: "Yên nào, yên nào...". Lão chưa kịp phản ứng thì từng ngón tay chuyển động vừa mơn trớn vừa thôi thúc dần dần về phía bụng, rồi luồn hẳn xuống phía dưới rốn lão. Lão định nhắm mắt nhưng không hiểu sao lại giơ tay chụp bàn tay đang háo hức kia. Lão giật mình, mở choàng mắt. Mồ hôi nhễ nhại, người lão dính chặt vào tấm chiếu.
Ngày từ miền Nam trở về, mẹ lão chưa kịp mừng, lão lại đi tiếp. Ngày ấy, K.Đ, vùng đất lão đặt chân đến, vốn khét tiếng là nơi rừng thiêng nước độc, nơi người ta đối xử với nhau bằng luật rừng.
Lão không thuộc týp người to cao, đẹp trai, nhưng được cái thân hình săn chắc, cân đối và đậm vẻ phong trần. Lão lọt vào tầm mắt của nhiều chị em xa chồng mưu sinh và tất nhiên không thoát khỏi ánh mắt thòm thèm của Hai Tham. Gã là ông trùm vùng này. Trông bề ngoài rất nam tính, vậy mà gã đã bỏ người vợ phòng không chiếc bóng hơn mười năm ở quê. Ác cái gã không đồng ý ly dị vợ dù vợ nằng nặc đệ đơn mấy lần, chắc để che đậy cái vốn "không đàn ông" của gã. Ban ngày gã vẫn ve vãn mấy bà, mấy cô nhưng ban đêm lại trở thành con người khác.
Lão gặp Hai Tham lần đầu ở khúc sông đầu nguồn. Là lính mới nên lão chỉ được phép đãi vàng tại những nơi người ta đãi đi đãi lại mấy đợt. Trời nắng, lại phải ngâm mình dưới dòng nước lợn cợn khiến lão thấy bức bối. Lão cởi phăng cái áo, mặc độc cái quần đùi.
Mày thuộc quân thằng nào?
Ông Hai Tham vừa hỏi vừa nhìn chằm chằm vào người lão đến nỗi lão phát ngượng.
Quân Sáu Ngón.
Mai bỏ thằng Sáu Ngón. Qua làm bên tao, tao trả lương hậu hĩnh hơn.
Mắt Hai Tham sòng sọc nhìn lão. Lão chưa kịp trả lời, Hai Tham đã sấn tới đặt đôi bàn tay thô ráp lên vai lão, rồi từ từ vuốt xuống sống lưng, kèm theo lời thì thầm: "Đi nghe cưng". Theo phản xạ, lão hất một cái thiệt mạnh.
Cút đi.
Lão hét lớn đến nỗi mọi người xung quanh giật mình. Hốt hoảng, họ vội chạy lại vừa đỡ ông Hai Tham vừa xuýt xoa. Ông Hai Tham làm bộ mặt như không có chuyện gì xảy ra. Miệng hênh hếch cười:
Chú em giỏi lắm.
Mấy đêm sau, lão không tài nào chợp mắt. Lão bắt đầu thấy lo sợ. Mấy người cùng làm khuyên lão nên trốn về. Có ai thoát khỏi tay gã già đó đâu. Không bị đánh nhừ tử cũng bị chết ngạt dưới hầm nếu lỡ làm gã phật lòng. Lão tưởng tượng bao nhiêu kiểu trừng phạt sẽ đến với mình, kiểu nào cũng kinh khủng.
Cuối cùng, sự trừng phạt ấy cũng đến, nhưng nó không hề có trong danh sách tưởng tượng của lão. Một sự trừng phạt còn ghê tởm hơn mọi sự trừng phạt trên đời.
Đêm đó, lão trực ở bãi vàng. Khi trăng đã treo ngoài mé rừng, đang thiu thiu ngủ trong túp lều dựng tạm bằng ni-lông, lão lại nghe cái giọng thì thầm từng làm mình lợm giọng và nơi cơn tam bành hôm bữa.
Chú em tuyệt lắm!
Buông tôi ra.
Yên nào. Muốn giàu sang, có quyền lực hay muốn ra về tay không hả? Chỉ cần mày chiều tao đêm nay, ngày mai đảm bảo mày khỏi phải nằm trơ trọi ngoài túp lều này.
Trong phút chốc, lão thấy người yếu hẳn, như thể chẳng còn sức lực nào dưới những cơn liếm láp vô tội và của gã Hai Tham. Lão nhắm nghiền mắt. Vàng tấm lấp lánh đặc quánh cả một khúc sông hiện ra trước mắt lão. Cái sàng thường ngày vớt lên toàn cát với đất, giờ oằn xuống vì những hạt vàng nặng trịch.
Lão thấy mình đang đi mua sắm nơi sầm uất nhất trị trấn, cô bán hàng săn đón: "Anh ơi! Mua quà tặng bạn gái, tặng mẹ đi anh". Lão dừng lại, cẩn thận kiểm tra từng đường kim mũi chỉ của chiếc áo. Quê lão sắp vào mùa mưa bão, chỉ nghĩ đến cảnh mẹ khoác chiếc áo lạnh lên người, lòng lão đã thấy ấm áp vô cùng...
Rồi lão thấy đám con nít trong xóm ùa ra đầu đường tíu tít ôm quanh người lão vòi kẹo. Thấp thoáng sau đám mía cao gần bằng nửa đầu người, mẹ lão cười thật hiền, âu yếm nhìn lão...Mọi cảnh vật cứ nhòe đi, nhòe đi dưới ánh trăng muộn của một đêm sắp tàn.
Trời sáng. Miệng đắng chát. Lòng rống tuếch. Lão nằm lì trong lều mặc cho mọi người í ới gọi.
Anh Tư bệnh à? Có cần tui mua thuốc không?
Tiếng cô Nga cùng đội hỏi đi hỏi lại làm lão phát bực. Lão vẫn nằm im.
Ê, cô Nga, cô coi ảnh còn thở không? Hay là đêm qua bị gã Hai Tham mần thịt rồi...
"Bốp, bốp...". Thằng Téo nói chưa dứt câu đã phải chịu hai cú đấm như trời giáng của lão. Mọi người chạy túa lại. Lão gạt phăng, lững thững bước đi, không nói một lời.
Nhìn sắc mặt đằng đằng sát khí của lão, Hai Tham run rẩy dù đàn em đứng xung quanh.
Có chuyện gì không? Từ từ rồi nói chuyện.
Tui muốn làm cho ông.
Lão vừa trả lời vừa nhìn trừng trừng Hai Tham.
Lão trở thành trợ lý đắc lực của Hai Tham trong tất cả mọi chuyện, tất nhiên cả "chuyện ấy". Nhiều người chép miệng tỏ ra thương hại lão, làm tay sai cho Hai Tham, trước sau gì cũng thân tàn ma dại...
Chú em, ngày mai anh muốn chú đến trại thằng Chữ cho tụi nó một bài học.
Vừa nói Hai Tham vừa quăng cho lão một bọc nặng trịch. Lão cúi xuống lấy và quay đi, không nói một lời.
Trại thằng Chữ nằm heo hút tựa vào ngọn đồi. Nghe nói năm ngoái, không ít người đã bị chôn vùi dưới hầm đất vì đất đá lở đột ngột. Biết đâu dưới chân lão đang đứng là một ngôi mộ tập thể cũng nên. Lão còn nghe đồn vào những đêm rằm, tiếng kêu cứu thảm thiết thỉnh thoảng vang lên từ những cái hầm bị lấp. Lão thoáng rùng mình. Tháng đầu mới lên, lão thường xuyên mất ngủ, câu chuyện về những cái chết tang thương cứ ám ảnh lão trong từng giấc mơ. Có dạo lão suýt bỏ về vì không chịu nổi trước cái chết kinh khủng của thằng Vinh làm cùng đội.
Sau đó, thằng Vinh nói với lão là đi gài bẫy chồn, vậy mà tối thui vẫn không thấy về. Hốt hoảng, lão vội báo cho mọi người, ai cũng cười bảo: "Chắc thằng này thèm gái, ra ngoài hú hí rồi chứ gì. Sáng nó lại mò về cho xem".
Trời sáng, bóng dáng thằng Vinh vẫn biệt tăm. Linh cảm điều không may, lão rủ thêm vài người vác rựa đi tìm. Mọi người gọi vang cả khu rừng, nhưng không có tiếng đáp trả. Bỗng chú ba trong đội la toáng lên: "Mọi người ơi, có phải là dép thằng Vinh không?". Đúng là dép nó rồi, tim lão đập thình thịch. Cả người lão như thắt lại khi mọi người phát hiện cách đôi dép chưa đầy một bước, một miệng hầm bị phủ đầy cây cối hiện ra. "Thằng Vinh bị sụp hầm rồi", tiếng chú Ba đứt quãng.
Miệng hầm chỉ đủ một người xuống. Sợi dây thừng buộc ngang qua lưng chú Ba, và một bình o-xy được mang theo. Nhưng khổ nỗi, vừa xuống chưa được nửa hầm, chú Ba đã ra hiệu mọi người kéo lên. Bốn, năm lần xuống rồi lên. Hết người này đến người kia thay thế, nhưng không một ai vượt qua được nửa chặng hầm. "Mới nửa chặng hầm đã không thở nổi rồi". Mọi người nhìn nhau bất lực. "Đành lấp miệng hầm, làm mộ cho thằng Vinh thôi", giọng chú Ba nghẹn lại. Lão bật khóc ngon lành. Lão khóc cho giấc mơ đổi đời của những phận nghèo như Vinh, như lão.
Anh Tư có chuyện gì không ạ?
Thấy lão trầm ngâm khá lâu, mấy thằng đi theo khúm núm hỏi.
Mày vô gọi thằng Hai Chữ, nói có Tư Long gặp.
Đi dằn mặt kiểu xã hội đen như vầy, đối với lão, dễ như trở bàn tay.
Dạ, anh Tư kêu thằng em này ra có chuyện gì dạy bảo không ạ?
Lão nhếch miệng:
Không ngờ Hai Chữ nổi như cồn lại có gan thỏ đế sao? Ngày mai, đừng để tao thấy mặt tui bay ở địa bàn này nữa.
Giọng lão đột nhiên đanh lại. Thằng Hai Chữ và đàn em tỏ ra sợ hãi, gật đầu lia lịa. Khi bóng lão vừa khuất, Hai Chữ nhếch mép cười.
Đêm không trăng. Rừng ngủ sâu trong màn đêm đen kịt. Lão lại vượt sông. Lòng lão không thôi nghĩ ngợi, chỉ cần chuyến hàng tối nay trót lọt, đời lão sẽ lên tiên. Nào ngờ, đó là chuyến hàng cuối cùng. Lúc hai bên chuẩn bị trao đổi hàng, kiểm lâm ập tới. Lão lờ mờ nhận ra thằng Hai Chữ đứng khuất trong lùm cây xa xa.
Hơn một năm ngồi bóc lịch trong nhà đá, giấc mơ về những mỏ vàng không thôi ám ảnh lão. Lão chờ ngày ra tù, chờ ngày về với rừng.
Tôi muốn làm cho ông.
Phải đợi lão nhắc đi nhắc lại, Hai Tham mới mở đôi mắt lờ đờ  vừa mới phê thuốc nhìn lão.
Tôi không đủ tiền, đủ sức thuê anh nữa. Anh cũng lì thật. Tôi tưởng anh bỏ nơi này rồi chứ.
Ông...
Lão chưa nói hết câu, Hai Tham đã gạt phắt.
Đừng có dùng vũ lực ở đây. Anh phải hiểu, không có tôi, anh chỉ là thằng quèn mót đá ngoài rìa sông mà thôi.
Giọng nói rin rít của gã Hai Tham vừa dứt, bọn đàn em của gã đã xúm lại túm áo lão.
Lão thất thểu ra ngoài mé sông, bỗng thằng Tèo và chú Ba ở đâu chạy tới.
Ê, anh Tư, về làm với tụi này đi. Chúng tôi đang cần người. Nếu anh không chê...
Lão về vị trí như ngày xưa. Lão quyết tâm đãi vàng từ chính đôi tay của mình. Từng đêm lão lại nuôi giấc mơ, những giấc mơ có cái kết thật đẹp.
Anh Tư ơi, hình như chú Ba lên cơn sốt rét. Thuốc hết rồi, chắc phải qua bên kia sông mua.
Trưa hôm đó, lão và thằng Tèo vượt sông. Mọi người ái ngại, mùa này nước lũ trên nguồn về bất thình lình lắm. Tay bơi cự phách cũng phải bó tay trước dòng chảy lồng lộn của nước nguồn, người ta gọi đó là cơn thịnh nộ của thần linh.
Bao nhiêu lần vượt sông, vậy mà lần này lão cứ đưa chân chạm nước rồi rụt lên.
Tèo, mày về đi, để mình tao đi thôi.
Không đã ra đến đây thì hai anh em cùng đi. Nếu anh không yên tâm, mình thuê hai con trâu.
Trưa nắng như đổ lửa. Cưỡi trên lưng trâu, lão nghe hơi nước hừng hực bốc lên.
Anh Tư, anh định hồi nào về quê?
Hồi nào được thỏi vàng khổng lồ.
Thằng Tèo bỗng cười thật to. Lão cười theo. Chưa bao giờ lão thấy mình sảng khoái như thế. Nhìn dáng nhỏ thó của thằng Tèo, lão nhớ đến mấy đứa nhỏ trong xóm chiều chiều hay cưỡi trâu tắm trên dòng sông Rù Rì. Lòng lão phút chốc bình yên đến lạ.
Anh Tư, anh có nghe gì không?
Lão chưa kịp định thần thì một cơn rung chuyển ầm ầm ập đến.
Xác thằng Tèo được tìm thấy sau năm ngày ròng rã tìm kiếm. Lão không khóc rưng rức như ngày thằng Vinh bị sụp hầm. Lão thấy người mình như đang chết dần, chết mòn. Giấc ngủ của lão không còn chập chờn những mỏ vàng lóng lánh nữa, thay vào đó là nụ cười của thằng Téo và câu hỏi: "Anh Tư, anh định hồi nào về quê?" cứ bám riết lão.
Lão khăn gói về, lặng lẽ và tay trắng.
Anh Tư, hình như anh ghét tôi lắm.
Mụ Miên vừa bào sắn vừa nhìn lão thăm dò.
Có chuyện gì cô cứ nói. Lão đáp nhát gừng.
Chắc anh hiểu lầm tôi. Mấy lần gặp anh tôi muốn hỏi, nhưng sợ phiền. Số là tôi nghe bà bảo anh mới từ bãi vàng K.Đ về, ba thằng Phi nghe nói cũng làm trên đó. Tôi...tôi muốn hỏi đường lên đó một chuyến.
Cái gì? Lão trợn mắt nhìn mụ Miên.
Tôi muốn tìm mộ anh ấy. Nói đến đây giọng mụ nghẹn lại, nước mắt chảy ròng ròng.
"Tìm mộ à?". Nghĩ đến những cái hầm chôn vùi bao nhiêu là xác người, lão cười cho ý nghĩ điên rồ của mụ Miên. Nhưng lão không nỡ cắt đứt tia hy vọng mỏng manh ấy, cũng không muốn nỗi đau lại đến với mụ một lần nữa.
"Được rồi. Cô nín đi. Nếu có dịp lên đó, tôi sẽ tìm hộ cô". Lão buột miệng hứa mà không suy nghĩ. "Mai nói thăng Phi vào nhà tôi lấy cái lồng chim về. Tôi đan xong rồi".
Mụ Miên luýnh quýnh đứng lên, miệng mấp máy. Chồng mụ cũng như bao người đàn ông khác dã dành hơn nửa đời người để đeo đuổi giấc mơ về những mỏ vàng. Nhưng vàng đâu chẳng thấy, chỉ thấy những giấc mơ ấy đã dần biến họ thành những cái bóng vật vờ. Cứ thế, người ra đi thì nuôi giấc mơ về vàng, người ở nhà thì bị ám ảnh bởi những căn bệnh, thiên tai, những tệ nạn. Dù hay tin chồng chết nhưng mụ Miên vẫn hy vọng một ngày nào đó, chồng sẽ trở về.
Không hiểu sao từ dạo mụ Miên bộc bạch nỗi niềm, lão thấy mình nên bù đắp sự mất mát cho hai mẹ con mụ. Ít ra lão đã rất may mắn, may mắn hơn chồng mụ Miên, thằng Vinh, thằng Tèo. Lão may mắn vì còn sống như một con người.
Mụ Miên đứng khép nép bên lão cầu nguyện. Những đứa trẻ tung tăng cắp sách tới trường. Đàn bò đủng đỉnh gặp cỏ trong ánh ban mai. Cuộc sống yên bình hiện ra.
Tỉnh dậy. Lão mới biết mình vừa trải qua một giấc mơ dài. Đó có lẽ là giấc mơ đẹp nhất trong đời lão, một "giấc mơ vàng" thật sự.